Tìm kiếm thông tin:
  Chuyên đề Bạn nhà nông
Nuôi
Trồng
Giống
Vật tư
Thiết bị - Công cụ
  Nhà nông tôn vinh
DNghiệp thân thiện
SPhẩm ưa chuộng
Nông dân thành đạt
  Trao đổi kinh nghiệm
Kinh nghiệm SX
Hỏi & đáp
  Danh bạ Bạn nhà nông
Cơ quan - Ban nghành
Hội - Hiệp hội
DN Sản xuất
DN Chế biến
DN D.Vụ-Thương mại
Trang trại
  Giới thiệu Bạn nhà nông
Website
Cẩm nang
Hồ sơ
Liên hệ


 Trồng

Đậu nành - cây trồng thần diệu

Đậu nành là một nguồn rất giàu những chất dinh dưỡng thiết yếu và là một trong những nguyên liệu thức ăn đa năng nhất. Được phát hiện và trồng phổ biến từ rất lâu đời ở Trung Quốc, đậu nành sau đó được lan toả ra phần còn lại của phương Đông khi những người lái buôn đưa đậu nành cùng với những chuyến vượt biển của họ. Cây trồng này không được biết đến ở phương Tây cho đến thế kỉ 20. Ngày nay, đậu nành là một trong những cây trồng chủ yếu trên thế giới, được trồng tại 47 nước.


Ghi chép đầu tiên về đậu nành được tìm thấy trong quyển bách khoa toàn thư Trung Quốc bao gồm các loại cây trồng được hoàng đế Cheng - Nung mô tả vào năm 2838 trước công nguyên. Nguồn gốc chính xác và lịch sử trước đó thì không được biết. Về sau đậu nành được đề cập lặp đi lặp lại nhiều lần trong các ghi chép về sau như là một cây trồng họ đậu quan trọng nhất trên khắp châu Á và đặc biệt là ở Trung Quốc. Người Trung Quốc gọi một nhóm gồm năm loại hạt cốc thiêng liêng với cái tên là “Wu Ku”.

Những loại cây trồng này bao gồm: đậu nành, lúa gạo, lúa mì, lúa mạch và kê và được xem như là những cây trồng thiết yếu cho sự tồn tại của nền văn minh Trung Quốc. Ghi chép trên đã trình bày cho thấy đậu nành được gieo trồng hằng năm với nghi lễ hết sức long trọng dưới sự chủ trì của hoàng đế Trung Quốc và các nhà thơ tán dương các công đức của đậu nành và các lợi ích của nó đối với con người.

Glycine ussuriensis là tổ tiên hoang dại của Glycine max và được tìm thấy ở Triều Tiên, Taiwan, Nhật bản, thung lũng Yangtze của miền Trung Trung Quốc, các tỉnh miền Đông Bắc Trung Quốc, và các khu vực giáp giới nước Nga. Chủng hoang dại này thì tương tự nhưng không phải là đậu nành được trồng hiện nay nhưng chúng có thể lai tạo được với nhau đồng nhất về mặt di truyền và thường được sử dụng trong chương trình lai tạo giống để kết nạp một số đặc tính quí đặc biệt được mong đợi trong những giống đậu nành mới được tạo ra.

Đậu nành được trồng đầu tiên ở nửa phần phía đông của miền bắc Trung Quốc vào thế kỷ 11 trước công nguyên. Phương thức trồng đậu nành được du nhập vào Triều Tiên từ miền bắc Trung Quốc và vào Nhật bản vào khoảng từ năm 200 trước công nguyên đến năm 300 sau công nguyên. Ngay cả đến ngày nay đậu nành cung cấp một nguồn protein rất quan trọng trong khẩu phần của nhiều quốc gia ở châu Á và là một thực phẩm và sản phẩm công nghiệp cực kỳ có giá trị trên khắp châu Á.

Sự du nhập của đậu nành vào Hoa Kỳ

Henry Yonge là người đầu tiên ở Mỹ trồng đậu nành trong trang trại của mình ở Thunderbolt Georgia vào năm 1765. Samuel Bowen, một thủy thủ, là người đã mang hạt giống đậu nành về Mỹ từ một chuyến hải hành từ Trung Quốc qua Anh Quốc. Từ năm 1804 đến năm 1890, rất nhiều cuộc du nhập loại cây trồng này được thực hiện từ Trung Quốc và Nhật bản. Sau năm 1890, đậu nành được nghiên cứu chuyên sâu hơn và quyển sách đầu tiên được dành riêng để viết về đậu nành của tác giả Wlliams đã được USDA xuất bản vào năm 1899.

Việc sử dụng đậu nành từ rất sớm ở châu Á rất khác nhau. Đậu nành được trồng chủ yếu để lấy hạt đã và vẫn còn được sử dụng làm thực phẩm ở dạng tươi, lên men và dạng khô. Một số lượng lớn đậu nành được đem ép để chiết dầu dùng làm thực phẩm và sử dụng cho mục đích công nghiệp. Bã đậu nành còn lại sau quá trình chiết dầu được sử dụng làm phân bón và làm thức ăn cho gia súc. Ngoài những sản phẩm đã được đề cập ở trên, đậu nành còn được sử dụng cho mục đích làm thuốc ở nhiều quốc gia châu Á.

Đậu nành cũng đã và đang được sử dụng để chế biến nước tương, sữa đậu nành, đậu phụ, bột nhão đậu nành, và mầm giá đậu nành. Hiện nay có nhiều dạng sản phẩm tương tự như thế đang được đổi mới để đáp ứng thị hiếu của con người. Nguồn gốc sử dụng ban đầu của đậu nành ở Hoa Kỳ như là một cây trồng làm thức ăn cho gia súc. Cây trồng được thu hoạch thường xuyên để tạo cây thức ăn khô từ một loại cây trồng hoặc được cày dập như là cây phân xanh đề cải thiện cấu trúc và độ phì của đất.

Đậu nành được sử dụng dưới dạng cây trồng làm thức ăn gia súc hiện có thể được đưa vào lại như một sự lựa chọn tương đối mới cho những người chăn nuôi bò sữa vì gần đây USDA đã phát triển nhiều giống đậu nành làm thức ăn gia súc mới. những giống đậu nành này có mầm nguyên sinh chất thành thục muộn sẽ phát triển chiều cao từ 5-6 feet với cấu trúc cơ thể lớn và sản sinh rất ít hạt bởi vì sự ra hoa xảy ra muộn trong mùa. Với ý định sử dụng những giống đậu nành làm cây thức ăn gia súc này cho việc ủ chua hỗn hợp với thân cây bắp ủ chua, bằng cách này đã cải thiện dinh dưỡng tổng thể của mẫu ủ.

Những giống đậu nành lấy thân này vẫn chưa được bán ra cho sản xuất thương phẩm nhưng vẫn đang được nghiên cứu trên khắp miền trung tây nước Mỹ. Đậu nành thường được trồng riêng lẻ như chúng ta thường tìm thấy chúng ở vành đai đậu nành của Hoa Kỳ hoặc chúng có thể được trồng cùng với những loại cây trồng khác để sử dụng như là cây trồng lấy thân làm thức ăn gia súc cây trồng lấy hạt. Việc trồng xen canh đối với các loại cây trồng lấy hạt thường xảy ra ở những vùng trên thế giới nơi mà lao động chân tay sử dụng trong việc gieo trồng và thu hoạch để tách riêng các loại hạt từ nhiều loại cây trồng khác nhau.

Thương mại

Thương mại buôn bán đậu nành hai chiều giữa Hoa Kỳ và Trung Quốc trước được hình thành từ trước năm 1865 và với các các nước châu Á khác ngoài Trung quốc vào khoảng năm 1895. Nhật bản là khách hàng lớn về đậu nành của Hoa Kỳ vào khoảng năm 1905. Anh Quốc lần đầu tiên nhập khẩu đậu nành vào năm 1900.

Đến năm 1935 khô dầu đậu nành đã trở thành một phần đã được công nhận trong khẩu phần cho gia súc và gia cầm. Ngày nay đậu nành là hạt lấy dầu chủ yếu của thế giới vì nó được sử dụng đầu tiên để chiết dầu; tuy nhiên, hàm lượng dầu trong hạt đậu nành chỉ chiếm dưới 20% và từ 35 - 40% là protein. Đến năm 1938 Hoa Kỳ đã trở thành nhà xuất khẩu đậu nành chính cho Canada và châu Âu. Giữa Hoa Kỳ và Trung Quốc có sự cạnh tranh nhỏ về vấn đề xuất khẩu mặt hàng này cho đến thập niên 1970 khi Braxin có sự gia tăng đáng kể sản lượng sản xuất. Argentina cũng đã trở thành một nước xuất khẩu quan trọng vào đầu thập niên 1980.

Hiện nay Hoa Kỳ sản xuất khoảng 46% sản lượng đậu nành cung cấp của thế giới và khoảng 40% diện tích đất để sản xuất đậu nành. Braxin là nước thứ hai trên thế giới chiếm 20%; Argentina và Trung Quốc xếp hàng thứ ba và thứ tư tương ứng với 14% và 9% sản lượng đậu nành của thế giới. Nhiều quốc gia khác trên khắp thế giới sản xuất đậu nành nhưng tổng sản lượng thì thấp hơn nhiều so với Hoa Kỳ, Braxin, Argentina và Trung Quốc.

Sản lượng

Sản lượng đậu nành trung bình ở Hoa Kỳ là 11 bushel/acre (734kg/ha) vào năm 1924 và tăng lên đến 25,4 bushel/acre (1695kg/ha) vào năm 1966. Sản lượng cao ghi nhận được của đậu nành trên toàn quốc trung bình là 41,9 bushel/acre (2795kg/ha) đạt được vào năm 1994.

Ở Hoa Kỳ, tổng diện tích sản xuất đậu nành thu hoạch được vào năm 1924 là 1,8 triệu acre (72845 ha). Sự gia tăng về diện tích sản xuất đậu nành thu hoạch được đến năm 1954 lên đến 18,9 triệu acre (764860 ha), vào năm 1994 là 61,8 triệu acre (25 triệu ha).

Sản xuất đậu nành ban đầu chủ yếu được tập trung ở miền đông và miền nam nước Mỹ. Vào thập niên 1930 các nhà máy chiết dầu được xây dựng ở miền trung tây và từ đó đã trở thành trung tâm sản xuất đậu nành của Hoa Kỳ. Hằng năm các bang Iowa và Illinois sản xuất ra khoảng 1/3 tổng sản lượng đậu nành của Hoa Kỳ. Thời tiết đóng một vai trò quan trọng trong việc quyết định bang nào dẫn đầu sản lượng đậu nành của quốc gia. Bảy bang đứng đầu về sản xuất đậu nành của Mỹ là ở miền trung tây từ Ohio đến Nebraska cộng với Minnesoto và Missouri. Vành đai đậu nành này sản xuất 70-75% tổng sản lượng của Hoa Kỳ mỗi năm.

Các đặc tính

Ngày nay, đậu nành là một trong những cây trồng chính của thế giới. Cũng như tất cả các loại mỡ và dầu khác, dầu đậu nành về phương diện hóa học là một triglyceride, một este của rượu glycerin và ba phân tử axit béo, gồm nhiều loại axit béo khác nhau (bảng 1).

Bên cạnh các triglyceride, dầu đậu nành còn chứa một hàm lượng nhỏ các thành phần không phải là glyceride, như: các phosphatide, sterol, tocopherol, carotenoid, chlorophyll, mono- và diglyceride, vitamin, và các axit béo tự do.
Thành phần tổng số của đậu nành chứa khoảng 38% protein, 15% carbohydrate dễ tan (sucrose, stachyose, raffinose, và những chất khác), 15% carbohydrate không hoà tan (chất xơ), 18% dầu (0,5% lecithin), và 14% ẩm, tro và những thành phần khác. Không loại trừ có một vài sự thay đổi trong thành phần hoá học của các sản phẩm đậu nành, đặc biệt là nếu đậu có nguồn gốc xuất xứ khác nhau.

Tuy nhiên, trong một số trường hợp phân tích thành phần hóa học của từng mẻ riêng biệt không đựơc thực hiện, đặc biệt là đối với những vi chất dinh dưỡng. Cho nên, các nhà dinh dưỡng học và những người thiết lập công thức thức ăn cho gia súc đôi khi phải dựa vào những dữ liệu đã được công bố với tóm lược các kết quả phân tích không thay đổi của nhiều mẫu khác nhau, và được công bố trong các bảng thành phần hoá học bởi các uỷ ban khoa học, các viện nghiên cứu, các trường đại học, các tạp chí khoa học kỹ thuật, v.v. Bảng 2 đưa ra một ví dụ về những kết quả này.

Các yếu tố kháng dinh dưỡng

Mặc dù đậu nành đựơc coi là một cây trồng thần diệu, nhưng thật không dễ dàng để thu được tất cả các thành phần của nó bằng một cách thức đơn giản. Đậu nành sống thường có giá trị dinh dưỡng tương đối thấp, hoặc có thể gây ảnh hưởng bất lợi đến sức khoẻ động vật khi được cho ăn. Đó là kết quả của sự có mặt của các thành phần có hoạt tính sinh học với tác động kháng dinh dưỡng (những yếu tố kháng dinh dưỡng hoặc ANFs).

Mặc dù chất quan trọng nhất trong số các hợp chất này là các chất ức chế hoạt tính của men protease và haemagglutins/lectins, saponin cũng như các yếu tố khác như allergenic, goitrogenic và rachitogenic có thể cũng có mặt. Chất kháng protease có một chức năng tự nhiên bên trong hạt đậu có tác dụng bảo vệ nó chống lại sự tấn công của chim hoặc sự xâm nhiễm của vi khuẩn. Khi hạt đậu nành được cho gia súc dạ dày đơn ăn, các yếu tố này trói buộc trypsin và chymotrypsin là các enzyme được tiết ra bởi tuyến tụy của gia súc, kết quả làm giảm hoạt động tiêu hóa và do đó làm giảm tốc độ sinh trưởng và chuyển hoá thức ăn kém.

Có ít nhất 5 loại chất ức chế trypsin đã được biết đến, trong đó chất ức chế protease chính được biết đến là yếu tố Kunitz và yếu tố Bowman-Birk. Hàm lượng trung bình của chúng theo thứ tự tương ứng là 1,4 và 0,6%. Nghiên cứu đã được tiến hành để tạo ra những giống cây trồng không chứa các chất ức chế này.

Xử lý nhiệt

Để làm biến tính của các yếu tố kháng dinh dưỡng không bền có mặt trong đậu nàh sống, xử lý nhiệt là một phương pháp có hiệu qủa nhất. Nhiều công nghệ chế biến khác nhau đã được phát triển, mà tất cả đều dựa vào sự dun nóng trong một thời gian nhất định, với một số phương pháp có gia thêm ẩm độ hoặc hơi nước. Điều quan trọng cần phải biết rằng sự phá hủy hoàn toàn các yếu tố kháng dinh dưỡng không bền bởi nhiệt không phải là mục tiêu cuối cùng của quá trình chế biến. Bên cạnh vấn đề chi phí cao hơn, những phương pháp như thế có thể sẽ có rủi ro là làm giảm chất lượng protein. Giảm thiểu hàm lượng của các yếu tố kháng dinh dưỡng mà không ảnh hưởng đến bất kỳ ích lợi dinh dưỡng nào. Có nhiều phương pháp để làm giảm hàm lượng các yếu tố kháng dinh dưỡng như sau:
1. Nấu.
2. Xử lý bằng sự phát sóng.
· Xử lý bằng sóng cực ngắn (viba).
· Xử lý bằng tia hồng ngoại.
3. Xủ lý bằng khí gas nóng
· Flaking (bung)
· Expansion (nổ)
4. Rang
5. Ép đùn

Thi trường thế giới

Thị trường thế giới của các loại hạt có dầu bao gồm nhiều loại hàng hoá gần gũi có thể thay thế được cho nhau như đậu nành, cải dầu, hướng dương, và hạt bông vải. Những nước xuất khẩu cũng chế biến các loại hạt có dầu ở trong nước và xuất các sản phẩm khô dầu giàu protein và dầu thực vật cho người mua ở nước ngoài. Nhu cầu của các nhà nhập khẩu nước ngoài phụ thuộc vào sự thiếu hụt giữa lượng hạt có dầu sản xuất trong nước và nhu cầu tiêu thụ.

Nhu cầu cân đối giữa khô dầu giàu protein và dầu thực vật, và giới hạn trong năng lực chế biến nội địa quyết định tỉ lệ hạt có dầu và các sản phẩm của hạt có dầu mà quốc gia đó sẽ nhập khẩu. Số lượng và nguồn nhập khẩu của các nhà nhập khẩu nước ngoài phụ thuộc vào tính sẵn có theo mùa vụ và giá so sánh, tín dụng và thời hạn giao hàng, sở thích của người tiêu dùng, và chất lượng. Các chính sách nhập khẩu của các nước, như: thuế quan và trợ cấp sản phẩm sản xuất nội địa, cũng ảnh hưởng đến hàng nhập khẩu bởi việc điều chỉnh giá cả nội địa và sự sẵn có của các sản phẩm cạnh tranh.

Hoa Kỳ là nước xuất khẩu đậu nành lớn nhất trên thế giới, và xuất khẩu thể hiện là nhu cầu rất quan trọng cho các nhà sản xuất ở Hoa Kỳ. Trong năm 1999/2000, tổng sản lượng xuất khẩu đậu nành và các sản phẩm từ đậu nành khoảng 40% lượng đậu nành sản xuất ở Hoa Kỳ và trị giá 6,4 tỷ $. Tổng lượng hạt có dầu và sản phẩm của chúng xuất khẩu đạt giá trị 8,7 tỷ $ trong năm 1999/2000, chiếm 18% giá trị xuất khẩu nông nghiệp của Mỹ.

Đối với đậu nành nguyên hạt của Hoa Kỳ chủ yếu là xuất khẩu sang các thị trường bao gồm công đồng Châu Âu (EU), Nhật Bản, Mehico, Trung Quốc, và Đài loan. Còn đối với khô dầu đậu nành xuất khẩu của Hoa Kỳ, các thị trường quan trọng bao gồm các nước như: Philipin, Canada, Ả rập, Venezuela và Thổ Nhĩ Kỳ. Xuất khẩu dầu thực vật của Hoa Kỳ thì phân tán hơn và chịu tác động mạnh bởi chương trình P.L. 480 về viện trợ thực phẩm nhân đạo cho các nước đang phát triển. Hình 2 và Hình 3 trình bày tình hình xuất khẩu đậu nành và khô dầu đậu nành của thế giới.

Thị phần xuất khẩu của Hoa Kỳ bị thu hẹp

Thị phần xuất khẩu toàn của Hoa Kỳ bị thu hẹp một cách đều đặn trong hai thập kỷ qua mặc dù có sự tăng trưởng đáng kể về sản lượng hạt có dầu và lượng hạt mới sản xuất trong sản lượng xuất khẩu. Trong khoảng giữa đến cuối thập niên 1970, Hoa Kỳ đã thống trị toàn bộ nền thương mại thế giới về lĩnh vực hạt có dầu chưa chế biến, với thị phần trên 70% thị trường thế giới. Gần đây, thị phần đã bị thu hẹp còn ít hơn một nữa. Hoa Kỳ nhận ra rằng thị phần xuất khẩu khô dầu hạt có dầu và dầu thực vật của họ thậm chí còn giảm mạnh hơn nữa, dẫu cho từ một cơ số nhỏ hơn, đặc biệt là trước năm 1990. Một nguyên nhân liên quan đến sự xuống dốc của xuất khẩu khô dầu đậu nành của Mỹ là do việc mở rộng xuất khẩu thịt gần đây của Mỹ, đã tăng nhu cầu sử dụng nội địa hơn là đóng góp vào xuất khẩu đậu nành và khô dầu đậu nành.

Một yếu tố đặc biệt quan trọng góp phần làm giảm thị phần xuất khẩu của Hoa Kỳ là sản lượng đậu nành xuất khẩu của các nước khác tăng một cách đột biến, đặc biệt là Braxin và Argentina. Hiện tại sản lượng đậu nành của các nước khác đã vượt hơn cả Mỹ, trong đó Braxin và Argentina chiếm khoảng một phần ba thị trường xuất khẩu đậu nành, tăng từ dưới 15% trước năm 1980. Cùng với việc gia tăng sản xuất, và việc mở rông buôn bán các sản phẩm từ đậu nành tăng nhanh hơn đậu nành nguyên hạt, Braxin và Argentina đã qua mặt Hoa Kỳ về xuất khẩu khô dầu đậu nành và dầu đậu nành.

Trung Quốc

Trung Quốc là nước sản xuất đậu nành lớn thứ tư trên thế giới, với khu vực trồng đậu nành chủ yếu tập trung ở vùng đông bắc của đất nước. Song sự phát triển nhanh chóng của nền kinh tế Trung Quốc đã thúc đẩy việc tiêu thụ thực phẩm, biến Trung Quốc thành nước nhập khẩu đậu nành dẫn đầu trên thế giới. Gia tăng nhập khẩu là một điều không thể tránh khỏi, vì tiêu thụ khô dầu và dầu tính theo đầu người Trung Quốc vẫn còn thấp hơn mức của các nước phát triển.

Những thay đổi trong nền nông nghiệp và các chính sách thương mại ở Trung Quốc đã làm ảnh hưởng đến thị trường hạt có dầu của thế giới. Trung Quốc mong đợi khi gia nhập vào tổ chức thương mại thế giới (WTO) sẽ làm giảm những rào cản về nhập khẩu đối với sản phẩm dầu thực vật. Với sự gia nhập này, lượng nhập khẩu dầu cao hơn đột ngột có thể làm giảm giá dầu nội địa và làm mất số dư lợi nhuận của hạt có dầu, mà sẽ dẫn đến xu hướng thích nhập khẩu khô dầu hơn là hạt có dầu.

Ấn Độ

Sản lượng đậu nành ở Ấn Độ gia tăng trong thập kỷ qua, mặc dù năng xuất thuộc vào loại thấp nhất thế giới. Ấn Độ có những rào cản cấm nhập khẩu hạt có dầu, vì thế triệt hạ bảo hộ nội địa làm hạn chế lượng hạt có dầu có thể được sản xuất ở Ấn Độ. Sản xuất đậu nành trong nước được coi trọng cao cho sản xuất dầu thực vật, và Ấn Độ là nước nhập khẩu dầu lớn nhất thế giới.

Liên minh châu Âu

EU tự cung cấp đủ nhu cầu về dầu thực vật, nhưng vẫn không đủ lượng khô dầu protein dẫn đến châu Âu là thị trường lớn nhất thế giới về nhập khẩu đậu nành và khô dầu đậu nành. Từ thập niên 1960, nhập khẩu đậu nành ở châu Âu tăng nhanh chóng vì sự phát triển nhanh chóng của ngành chăn nuôi gia súc và nhượng bộ miễn thuế được ký kết trong thoả thuận thương mại thế giới. Nhưng vào thập niên 1970 và 1980, sự tiêu thụ chậm lại, và chính sách nông nghiệp của EU hỗ trợ rộng rãi cho sản phẩm nội địa đối với hạt cải dầu và hạt hướng dương làm xói mòn thị trường nhập khẩu hạt có dầu của các nước.

Về mặt lịch sử thuế quan nhập khẩu ngũ cốc cao đã dẫn đến đẩy mạnh tiêu thụ khô dầu đậu nành của EU, mà được ưa thích hơn bằng chính sách miễn thuế cho đậu nành. Nhưng trong những năm sắp tới, cung cấp hạt ngũ cốc ở châu Âu được lên kế hoạch tăng lên, và các cải cách của CAP sẽ cho phép ủng hộ giá hạt ngũ cốc ở châu Âu giảm thêm nữa. Mặc dù giá trị thức ăn protein rất thấp, việc giảm so sánh của các loại thức ăn hạt có thể giảm sự tiêu thụ khô dầu đậu nành và nhập khẩu ở châu Âu trong tương lai.

GMOs

Đậu nành là cây trồng đầu tiên được thực hiện biến đổi gen. Từ cuối thập niên 1980, tập đoàn Monsanto của Mỹ đã tiến hành nghiên cứu trên đậu nành, về khả năng chống chịu thuốc diệt cỏ Roundup của họ. Ích lợi của đậu nành được biến đổi gen này là làm giảm chi phí sản xuất thông qua việc giảm đất trồng trọt và làm tăng năng suất qua việc loại trừ sự cạnh tranh của cỏ dại.

Sau lệnh cấm đậu nành biến đổi gen, châu Âu cho phép đậu nành xâm nhập vào thị trường của họ, tuy nhiên,từng thành viên của liên minh châu Âu không cho phép đậu nành xâm nhập xuyên qua biên giới của họ. Chính châu Âu cũng đã ban hành một đạo luật “thực phẩm mới” đòi hỏi tất cả đậu nành biến đổi gen phải được dán nhãn. Quan điểm của Hoa Kỳ và EU về các sản phẩm biến đổi gen vẫn còn một khoảng cách khá xa và một sự thoả hiệp về sử dụng chung nhất vẫn chưa được dự đoán trước trong thời gian trước mắt.

Bản dịch của VIETFEED



° Các tin khác
• Đà Lạt: “sốt” hoa Cymbidium
• Trồng cỏ Stylo plus
• Trồng cây hòe trên vùng đất đỏ bazan
• Tăng cường xúc tiến xuất khẩu hoa tươi sang thị trường Nhật Bản
• Thử nghiệm các hệ thống trồng trọt mới thay hệ thống phát nương - làm rẫy
• Tỷ phú trên vùng đất chết
• Trồng sấu ăn quả
• Trồng nấm - giàu nhà sạch phố
• Trồng mướp đắng hiệu quả kinh tế cao
• Trồng dừa xen ca cao: Hấp dẫn, hiệu quả
• Trồng chà là trên đất cát
• Người giữ sắc mai vàng
• Minh Tân (Thái Bình): Từ cánh đồng 13 triệu đến cánh đồng 130 triệu
• Cây... trăm triệu
• Ca cao sẽ là cây chủ lực
• Côn trùng lạ trên nhãn
• Có hay không, nông dân An Giang
• Sản xuất nấm bào ngư trên cơ chất rơm
• Khảo nghiệm 10 giống đậu nành tại TP Long Xuyên
• Tre Điền Trúc, mô hình cải tạo vườn tạp hiệu quả cao
• Long xuyên: Cây mè đen lên ngôi
• Ứng dụng IPM trên rau màu ở An Giang
• Diễn biến cà phê trong nước tuần kết thúc
• Tiết kiệm nước, bước đột phá mới trong sản xuất lúa
• Lúa sạch giá cao: mô hình nông nghiệp mới
• Triển vọng sản xuất lúa chất lượng cao tại An Giang
• Điều bí ẩn năng suất lúa được giải quyết?
• Nếp Phú Tân sắp có tên thương hiệu
• Tây Nguyên: Hỗ trợ nông dân nghèo sản xuất tơ lụa
• Ngành hồ tiêu Việt Nam: cả thế giới đang nhìn ta qua kính lúp!

 

Trang web được thiết kế và lưu trữ tại VietnamNetweb